Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

Quá tin vào dầu thánh, một cha xứ bị rắn cắn chết

Tại Kentucky - Mỹ, vào ngày 15/02/2014 một vị cha xứ đã chết do bị rắn sau khi không chịu đi tiêm phòng vì tin vào một đoạn kinh thánh. 

Cha xứ Jamie Coots, qua đời vào tối ngày 15/2 theo giờ Mỹ, trước đó đã trở thành ngôi sao truyền hình thực tế khi tham dự chương trình "Snake Salvation" của kênh truyền hình National Geographic.




Vị cha xứ Coots và vợ trên chương trình Snake Salvation của National Geographic (Nguồn: NG)


Trong chương trình này, ông thể hiện kỹ năng điều khiển đủ loại rắn độc, từ rắn hổ mang, đuôi chuông tới rắn hổ mang cá.

Theo cảnh sát hạt Middlesbrough thì Coots đã từ chối đi tiêm thuốc sau khi bị rắn cắn, vì vị cha xứ này tin rằng có một đoạn trong kinh Thánh nói rằng vết rắn cắn sẽ không gây hại nếu tín đồ đã được xức dầu thánh. 


Theo CNN, hoạt động xức dầu thánh bị xem là bất hợp pháp ở phần lớn các bang của Mỹ, nhưng vẫn tiếp tục diễn ra, chủ yếu là ở khu vực nông thôn miền Nam.

Coots là người điều khiển rắn thế hệ thứ ba và đã rất mong muốn ngày nào đó sẽ truyền lại các bí kíp của mình cùng nhà thờ Ngũ Tuần nhân danh Chúa Jesus cho con trai Little Cody.

Trang web của kênh truyền hình ảnh Coots để râu dê và đội mũ phớt. "Ngay cả sau khi mất nửa ngón tay và chứng kiến những người khác chết vì bị rắn cắn, Coots vẫn tin rằng ông phải tiếp tục đối mặt với những con rắn và đi theo niềm tin của mình" - trang web cho biết.


Dầu thánh dùng trong nghi lễ thiên chúa giáo. Ảnh minh hoạ.


Trong ngày Chủ nhật, phát ngôn viên của National Geographic, Stephanie Montgomery đã gửi cho CNN thông báo sau: "Khi theo chân cha xứ Coots để thực hiện loạt Snake Salvation, chúng tôi đã liên tục kinh ngạc trước sự mộ đạo của ông ấy, dù ông thường phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe và pháp lý... Chúng tôi thấy vinh dự khi được trao cho cơ hội tiếp cận hiếm có với cha xứ Jamie và giáo đoàn của ông trong show diễn của mình. Chúng tôi xin chia buồn với gia đình ông trong thời khắc khó khăn này".

Tháng 2/2013, Coots đã bị phạt tù treo vì mang rắn độc đi vào Tennessee. Trước đó ông cũng bị bắt hồi năm 2008 vì nuôi 74 con rắn trong nhà mình. 

Tennessee đã cấm hoạt động điều khiển rắn hồi năm 1947, sau khi có 5 người bị rắn cắn trong các nhà thờ tại đây trong vòng 2 năm./.


Tổng hợp - từ các nguồn
1. https://baomoi.com/muc-su-my-chet-vi-ran-can-do-tin-vao-dau-thanh/c/13112462.epi
2. https://www.vietnamplus.vn/muc-su-my-chet-vi-ran-can-do-tin-vao-dau-thanh/244273.vnp
3. http://doisongtieudung.vn/Muc-su-My-chet-vi-ran-can-do-tin-vao-dau-Thanh_3-183-509566.html

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

Thiên chúa giáo đã dựng câu chuyện giả tạo về con tàu noah !

Tàu Noah huyền thoại cứu rỗi nhân loại trong ghi chép của Kinh Thánh được cho là nằm lại trên đỉnh núi Ararat của Thổ Nhĩ Kỳ, trong sự kiện đại hồng thủy cách đây 4.800 năm.


Theo như mô tả trong Kinh Thánh, Noah có chiều dài 157 m, rộng 26 m và cao 16 m. Con tàu đã cứu thoát gia đình ông Noah và nhiều loài động vật khác trên Trái Đất sau trận đại hồng thủy lịch sử, nhấn chìm phần lớn nhân loại. Những người theo đạo Cơ đốc cũng tin rằng, sau thảm họa, con tàu đã trôi dạt về khu vực núi Ararat và bị chôn vùi ở đó, dưới lớp tuyết và tro bụi núi lửa.





Video: Phân tích lý do tại sao tàu noah lại không thể tồn tại

NHỮNG TUYÊN BỐ VỀ BẰNG CHỨNG


Năm 2010, một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đã thực hiện chuyến thám hiểm tại khu vực này, và để tìm kiếm những tàn tích của con tàu. Sau một vài tuần, nhóm tuyên bố đã phát hiện ra những mẩu gỗ từ một cấu trúc dạng tàu ở độ cao 4.000 mét trên dãy Ararat – ngọn núi cao nhất Thổ Nhĩ Kỳ (hơn 5.100 mét), nhóm khẳng định rằng đã xác định được niên đại của những mẩu gỗ, vào khoảng 4.800 năm, bằng phương pháp phóng xạ carbon. Kết quả này cũng tương đồng với thời điểm ra đời của tàu Noah.


Hồi năm 2017, hơn 100 nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên khắp thế giới đã đổ về khu vực núi Ararat ở Ağrı (Thổ Nhĩ Kỳ) để đi tìm “nơi an nghỉ” cuối cùng của con tàu huyền thoại.


Giáo sư Raul Esperante đến từ Viện Nghiên cứu Khoa học địa chất ở Mỹ nói: “Mục đích của tôi đến đây là nhằm tìm kiếm bằng chứng về thảm họa hủy diệt nhân loại trong quá khứ”, “Phát hiện của tôi sẽ được công bố trên tạp chí, tài liệu, sách báo, nhưng ở thời điểm này vẫn còn quá sớm để đi đến kết luận”, "Một khi cộng đồng khoa học xác nhận sự tồn tại của tàu Noah trên đỉnh núi Ararat, tôi sẽ công bố phát hiện trước công chúng". 


Nhà nghiên cứu Mỹ khẳng định tàu Noah nằm lại trên đỉnh núi Thổ Nhĩ Kỳ.





Ảnh "Thuyền noah vượt đại hồng thuỷ được nhiều  người xem là sự kiện lịch sử có thật"

CÁC CHUYÊN GIA LÊN TIẾNG:

GS Nicholas Purcell - bộ môn lịch sử cổ đại tại ĐH Oxford (Anh) bác bỏ tuyên bố về những phát hiện trên, cho rằng những phát hiện trên là vô nghĩa. "Nếu một trận đại hồng thủy bao trùm khu vực Âu-Á ở độ cao 3.700 mét, trong giai đoạn năm 2.800 trước Công nguyên thì các nền văn minh Ai Cập hay Mesopotamia tồn tại như thế nào trong hàng thế kỷ?"



Các nhà thám hiểm tuyên bố tìm thấy con tàu Noah nằm ở gần đỉnh của ngọn núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: National Geographic.


Tiến sĩ Andrew Snelling đến từ Đại học Sydney nói núi Ararat không thể là nơi con tàu Noah nằm lại vì ngọn núi này chưa xuất hiện ở thời điểm trận đại hồng thủy xảy ra.


Nhà khảo cổ học người Anh Mile Pitt lý giải: những phát hiện trước đây chưa phải bằng chứng thuyết phục: "Nếu đã từng có một trận đại hồng thủy, đưa con tàu khổng lồ lên ngọn núi ở độ cao hơn 4.000 mét cách đây 4.800 năm như vậy, tôi nghĩ sẽ phải có những bằng chứng địa chất về sự kiện này ở nhiều nơi, tuy nhiên thực tế lại không có một trận lụt nào kinh hoàng đến vậy từng xảy ra


Paul Zimansky, nhà khảo cổ học chuyên về Trung Đông tại Đại học Stony Brook, Mỹ, nói: "Tôi chưa từng thấy đoàn thám hiểm nào đi tìm con tàu noah mà không tuyên bố phát hiện ra nó", đa phần những nhà khoa học hay khảo sổ lịch sử đều thuộc tổ chức liên vụ quốc tế tàu noah, trước khi lên đường đã mặc nhiên tin về sự kiện này thì thấy bất cứ thứ gì cũng muốn chỉ thấy những điều muốn tin mà thôi.




Trường Nguyễn - Tổng hợp từ các nguồn

1. http://vtv.vn/the-gioi/bang-chung-moi-ve-tau-noah-vuot-dai-hong-thuy-o-tho-nhi-ky-20171231113731342.htm 

2https://baomoi.com/bang-chung-moi-ve-tau-noah-vuot-dai-hong-thuy-o-tho-nhi-ky/c/24434094.epi
3https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/tranh-cai-ve-noi-chon-xac-tau-noah-vuot-dai-hong-thuy-3690437.html
4. https://www.tienphong.vn/cong-nghe/tau-noah-vuot-dai-hong-thuy-duoc-chon-cat-o-dau-1225279.tpo
5http://danviet.vn/the-gioi/bang-chung-moi-ve-tau-noah-vuot-dai-hong-thuy-o-tho-nhi-ky-834871.html
6https://baomoi.com/tan-tich-tau-noah-co-gi-la-ma-khien-gioi-khoa-hoc-soi-suc/c/23036009.epi

Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017

Những thiên tài bị giáo hội Thiên Chúa giáo bách hại thời Trung Cổ

Các nhà khoa học châu Âu trong thời Trung Cổ, bao gồm các nhà nghiên cứu về tự nhiên, toán học và triết học luôn gặp những khó khăn, bất trắc thậm chí là nguy hiểm tới tính mạng.

Sau khi bị Đế quốc La Mã tàn phá, các lĩnh vực khoa học trở thành một hoang địa khô cằn. Hình ảnh châu Âu thời Trung Cổ được khắc họa với hình tượng những nông dân nghèo khổ, nhà cai trị bẩn thỉu, mù chữ, và một xã hội đầy bóng tối mê tín dị đoan.

Sự kiểm soát gắt gao của nhà thờ bị coi là đã ngăn chặn sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này. Mối quan hệ giữa giới nghiên cứu khoa học và Công giáo luôn xuất hiện những tranh cãi gay gắt. Vị thế của Công giáo khẳng định rằng không thể có sự bất hòa giữa các nhà khoa học và tôn giáo. Nhưng đã có không ít các nhà khoa học bị bức hại bởi lý thuyết khoa học của họ bị cho là dị giáo, phù thủy. Dưới đây là những nhà khoa học có mâu thuẫn với Giáo hội và đã bị sát hại dã man.
Roger Bacon
Roger Bacon (1220-1292) là một triết gia người Anh và là một nhà khoa học tự nhiên tài năng, được coi là một trong những người tiên phong của “phương pháp khoa học” và được ghi nhận vì những quan sát thực nghiệm của ông. Tác phẩm vĩ đại nhất của ông là Opus Major, bao gồm các phương pháp nghiên cứu toán học, quang học, thuật giả kim và thiên văn, với các lý thuyết về vị trí và kích cỡ của các thiên thể. Bacon đã bị chính quyền giáo hội giam giữ vào khoảng năm 1279 và đã chết trong khi đang bị bắt.

Bacon là một trong những người ưa thích tìm hiểu về tôn giáo thời Trung cổ. Từ chối tất cả mọi thứ từ chủ nghĩa triết học kinh viện đến lịch Julian để chấp nhận học thuyết Công giáo về thẩm quyền của Giáo hội, Bacon đã nảy sinh sự hoài nghi về chế độ giáo hội. Ông bị cầm tù năm 1279 vì đã xuất hiện tư tưởng chống đối giáo hội và suốt cuộc đời bị buộc ở trong trại giam tại Franciscan, nơi ông cuối cùng bị chết trong tù. Tuy nhiên, cũng có thông tin cho rằng ông không bị bức hại vì những ý tưởng khoa học hay những lý thuyết khoa học của mình, mà vì đã lăng mạ các giáo sĩ trong cuốn Compendium Studii Philosophiae xuất bản năm 1271 của ông.
Cecco d ‘Ascoli
Cecco d ‘Ascoli (1257-1327) là một nhà bách khoa toàn thư, bác sĩ và chuyên gia người Ý chuyên về toán học và thiên văn học. Ông là một giáo sư về thiên văn tại Đại học Bologna và là một nhà thiên văn học nổi tiếng khi phát hiện ra một miệng núi lửa đặt trên mặt trăng. Ông bị cho là dị giáo và bị thiêu chết tại Florence, ông là giáo sư đại học đầu tiên bị kết án tử hình bởi giáo hội.

Giống như Bacon, Ascoli được biết đến như là một người hoài nghi tôn giáo, người đã tránh học thuyết của Giáo hội để ủng hộ các sự kiện khoa học. Ông bị buộc tội vì “căm ghét” tôn giáo và vì sự cống hiến của ông cho khoa học thực nghiệm. Ông bị thiêu cháy vào năm 1327 như là một ví dụ điển hình để ngăn chặn các giáo sư đại học thời đó không nên quá quyết đoán trong việc thúc đẩy lý thuyết khoa học.
Michael Servetus
Michael Servetus (1509-1553), được biết đến là một bác sĩ Tây Ban Nha, nhà thần học, người lập bản đồ, và học giả người Mỹ. Chuyên môn của ông trải dài trong nhiều lĩnh vực; ông đã viết các luận án về toán học, thiên văn học, khí tượng học, địa lý, giải phẫu người, dược phẩm và dược học, cũng như bài luận án và làm thơ. Năm 1553, ông bị Tòa án Inquisition kết án tử hình ở Vienna, mặc dù cuối cùng ông lại bị người Calvin giết chết ở Geneva vào cuối năm đó.

Servetus không phải là một người hoài nghi tôn giáo. Ông chỉ bác bỏ các nguyên lý của tín ngưỡng Công giáo và Tin Lành. Bởi vì ông là một người theo phái Unitarian, ông cũng bác bỏ học thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi. Servetus tin rằng học thuyết về Ba Ngôi đại diện cho tham nhũng ngoại giáo được đưa vào đức tin Kitô giáo thông qua các triết gia Hy Lạp. Ông hy vọng ý tưởng của ông sẽ giúp thanh lọc Kitô giáo, như ông đã tranh luận trong 1553 cuốn Phục hồi Cơ đốc giáo của mình. Nhà cầm quyền giáo hội ở Vienne (và người Calvin ở Geneva) không thể chấp nhận thách thức đặt ra cho các tín đồ của họ bằng các tư duy khoa học của Michael. Thay vì đối phó với các lập luận hoài nghi của ông một cách hợp lý, họ đã biến Michael Servetus trở thành một người tử vì khoa học.
Lucilio Vanini

Nhà triết học và bác sĩ Lucilio Vanini (1585-1616) là một người Công giáo và đã được ghi nhận là học giả thời kỳ cuối Phục hưng. Ông là một kẻ đối lập chính trị với các giáo hoàng, và được biết đến như một người đề xướng sớm về một số hình thức tiến hóa từ loài linh trưởng. Ông đã từng rời bỏ Giáo hội vì chủ nghĩa Anh giáo nhưng sau đó trở lại đức tin.Vanini là một trong những nhà tự nhiên học vĩ đại đầu tiên, người đã cho rằng các sự kiện siêu nhiên tác động tới trí tưởng tượng của con người. Chủ nghĩa tự nhiên của ông đã khiến cho ông gặp mâu thuẫn với các nhà cầm quyền của Giáo Hội, những người đã truy đuổi ông ta từ thành phố này đến thành phố khác cho đến khi ông bị buộc phải dùng căn cước giả mạo. Ngay cả điều này cũng không thể cứu ông ta khỏi cuộc truy nã, săn đuổi điên rồ, cuối cùng ông được tìm thấy, bị chết trong một hoàn cảnh vẫn được coi là bí ẩn vào năm 1619. Nhưng dư luận thời đó cho là ông bị các nhà chức trách ở Toulouse hạ sát vì tội báng bổ và dị giáo. Ông bị bóp cổ chết, cắt lưỡi và cơ thể bị đốt cháy.
Tommaso Campanella

Đô đốc Dominican Tommaso Campanella (1568-1639) là một nhà chiêm tinh, triết gia và nhà thơ Ý. Ngay từ đầu sự nghiệp văn thư của mình, ông trở nên bất mãn với tư tưởng Aristotle và trở thành người đề xướng chủ nghĩa kinh nghiệm mới. ông bị giam giữ trong một thời gian ngắn bởi tòa án Inquisition vì tham gia vào việc suy đoán chiêm tinh. Sau đó ông được thả ra nhưng đã bị bắt giữ ở Calabria, bị tra tấn, và đã phải ở tù trong hai mươi sáu năm. Cuối cùng ông được thả ra để tham gia vào phiên tòa của Đức giáo hoàng Urban VIII và đã có một số sự liên hệ sâu xa trong vụ Galileo. Vì tuổi tác đã cao, lại gặp rắc rối chính trị, Tommaso phải lưu vong đến triều đình Louis XIII tại Pháp, nơi ông qua đời vào năm 1639. Theo nhiều thông tin, vụ tra tấn và giam cầm của Campanella là do những hoạt động chính trị cực đoan chứ không phải những ý tưởng khoa học của ông.
Kazimierz Lyszczynsk

Kazimierz Lyszczynsk (1634-1689) mặc dù không phải là một nhà khoa học nổi tiếng, ông chỉ là một người lính Ba Lan và quý tộc, nhưng cũng là một học giả nghiệp dư và triết gia. Lyszczynsk được giáo sĩ dòng Tên đào tạo nhưng sau đó đã trở thành một đối thủ của Hiệp hội. Ông bị bắt và buộc tội chủ nghĩa vô thần và báng bổ dựa trên bản thảo vô thần được cho là có tựa đề “Về sự không tồn tại của Thiên Chúa”. Ông bị lên án và bị chặt đầu vào năm 1689 sau khi bị cắt lưỡi và bị thiêu xác.
Theo DÂN VIỆT

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

FB12-2017 - Sự nguy hiểm của thiên chúa giáo đối với An ninh việt nam

SỰ NGUY HIỂM CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐỐI VỚI AN NINH VIỆT NAM




Năm 1856 thiên chúa giáo cùng với thực dân Pháp đã xâm lược nước ta.
Sau 95 năm, Năm 1954, chỉ trong vòng 95 năm mà chúng đã có thể kêu gọi hơn 1 triệu dân di cư vào Nam Việt Nam. Làm cho nước nhà bị chia cắt thành 2 miền. Với lời kêu gọi là "Đức Mẹ Đồng Trinh" đã đi cư vào Nam Việt Nam Và những lời nói là chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đàn áp thiên chúa giáo nên phải di cư vào Nam Việt Nam.

Hình ảnh: "Giáo dân di cư vào nam 1954 theo lời kêu gọi"

Dưới chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thiên chúa giáo được tôn sùng một cách quá mức, trong quân đội người công giáo được giữ chức vụ cao hơn, giáo dân chẳng phải đóng thuế. Các giáo mục có quyền chỉ huy quân đội. Bọn chúng đã đàn áp các tôn giáo khác nổi tiếng nhất là sự kiện Đạo Phật bị đàn áp và sự tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức.



Hình ảnh: "Đàn áp tôn giáo khác của chính quyền công giáo Ngô Đình Diệm"

Sau KHI NƯỚC NHÀ ĐỘC LẬP dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sao bọn Linh mục phản động thiên chúa giáo lại không kêu gào di cư thêm một lần nữa rời khỏi Việt Nam đi, mà ở lại làm gì?. Tại sao "bà Mẹ già Maria còn trinh" dấu yêu của bọn linh mục phản quốc không di cư thêm một lần nữa đi? Vì chúng vẫn còn tham vọng rất lớn.



Hình ảnh: Linh mục dẫn đầu giáo dân chống phá đất nước.

Và mấy chục năm sau khi đất nước thống nhất, người công giáo ngày càng phát triển. Bọn linh mục phản động chỉ cần 1 lời kêu gọi là "Jesus" muốn giáo dân lật đổ chính quyền và giáo dân sẽ ngoan ngoãn làm theo như một cái "MÁY".
=> Việt Nam sẽ ra sao khi thiên chúa giáo ngày càng phát triển.

Tác giả: Hồ Văn Thanh

BÀI ĐĂNG TRÊN FACEBOOK


Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

Chém cha vợ, đâm chết em rễ chỉ vì nhà vợ không theo đạo công giáo

ANTĐ  Bị con dao vẫn còn găm sâu vào ngực, anh Đủ chỉ kịp la lên “chết con rồi ba ơi”, rồi ngã quỵ xuống.

Sáng nay ngày 27/10/2011, hung thủ giết người Nguyễn Thanh Hoài đã được Công an thành phố Quảng Ngãi bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh thụ lý điều tra theo thẩm quyền.


Gây án mạng vì “ngứa mắt” cha vợ cúng đầu tháng
Nguyễn Thanh Hoài (34 tuổi) quê ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Trước đây Hoài có một đời vợ, sau đó bỏ vào Tp Hồ Chí Minh làm thợ hồ thuê. Từ đây y quen với chị T., cả hai quyết định đi đến vợ chồng. Nguyễn Thanh Hoài theo chị T. về quê Quảng Ngãi sinh sống. Tại đây được cha mẹ vợ và người thân giúp đỡ nên Hoài và vợ có công việc và chỗ ở.  Họ lần lượt sinh 2 người con kháu khỉnh. Nguyễn Thanh Hoài hành nghề lái xe ôm tại chợ Quảng Ngãi. Vợ của Hoài buôn bán vịt cũng tại chợ. Vào ban đêm, hai vợ chồng nghỉ tại nhà xã Tịnh Ấn Tây, huyện Sơn Tịnh, ban ngày chạy thuê, buôn bán tại chợ Quảng Ngãi.




Hung thủ Nguyễn Thanh Hoài tại cơ quan điều tra

Chiều tối ngày 26/10, sau khi chạy vài cuốc xe ôm Nguyễn Thanh Hoài đã cùng một người thân đi nhậu. Khoảng 21h, kết thúc cuộc nhậu, Nguyễn Thanh Hoài chạy xe máy về nhà cha vợ là ông Trần Quốc Danh (ở tổ 2, phường Lê Hồng Phong, Tp Quảng Ngãi). Vừa bước vào nhà gặp ông Danh đang bày đèn nhang giữa sân để cúng đầu tháng. 


Do Hoài theo đạo công giáo, thấy việc cúng không ưa, nên tìm cách gây sự. Y đến thổi tắt nến, lớn tiếng với cha vợ. Ông Danh tức tối phản đối thì bị Nguyễn Thanh Hoài tay thủ sẵn con dao bấm xếp và lớn tiếng đòi đâm. Con dao bấm này luôn được y thủ sẵn bên người mỗi khi chạy xe ôm. Hai cha con xô xát, người cha vợ bị thương ở cánh tay.


Trong lúc ông Danh chạy xuống bếp lấy khúc cây chống trả thì người con rể khác của ông Danh tên Trần Văn Đủ (29 tuổi, ở tỉnh Đồng Tháp) chạy ra can ngăn. Thấy em “cột kèo” xuất hiện, tên Hoài lớn tiếng hăm dọa đòi đâm. Ngay sau đó, tên Hoài đâm một nhát chí mạng vào  ngực trái Trần Văn Đủ. Khi con dao vẫn còn găm sâu vào ngực, Đủ chỉ kịp la lên “chết con rồi ba ơi” rồi ngã quỵ xuống. Nhiều người trong nhà chạy đến rút con dao găm trên ngực Đủ ra. Máu tuôn xối xả, nạn nhân bị chết ngay sau đó. Khi thấy Trần Văn Đủ ngã gục, tên Hoài bỏ chạy trốn.




Con dao bấm xếp dùng đâm chết em “cột kèo”

Bi kịch người cha vợ

Sau khi vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng xảy, lực lượng Công an thành phố, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh đã triển khai lực lượng bao vây truy bắt đối tượng, quyết không để hung thủ trốn khỏi Quảng Ngãi trong đêm. Một tổ công tác khác đã tiếp cận vợ con của Hoài động viên liên lạc, tác động y ra đầu thú. Sau nhiều tiếng đồng hồ tìm cách trốn khỏi địa phương, nhưng bị lực lượng trinh sát phong tỏa. Hết cách, tên Hoài đến Công an xã Tịnh Ấn Tây, huyện Sơn Tịnh đầu thú lúc 2h sáng ngày 27-10.

Cho đến 4 giờ sáng ngày 27-10, hung thủ Nguyễn Thanh Hoài đã được Công an Tp Quảng Ngãi bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh thụ lý theo thẩm quyền.

Được biết, anh Trần Văn Đủ là con rể út. Hai vợ chồng hiện đang sống bằng nghề thợ hồ tại tỉnh Đồng Tháp. Vừa qua, người con trai ruột của ông Danh bị bệnh nặng, hai vợ chồng Đủ vội vàng đón xe đò về thăm em trai. Vật vã bên xác chồng, vợ anh Đủ khóc tức tưởi: “Ảnh hiền lắm, gom góp tiền xe đò một hai phải về thăm em vợ lâm bệnh. Không ngờ lại bị đâm chết bỏ lại tôi và 2 đứa con nhỏ”.

Nguyễn Thanh Hoài bị bắt, chắc chắn nhận bản án nghiêm khắc của pháp luật. Thảm cảnh khi người vợ của Hoài hiện đang mang thai và phải nuôi hai con nhỏ. Hơn bao giờ hết, gia đình ông Trần Quốc Danh xót xa khi những chàng rể của mình kẻ vào tù, người bị chết để lại hai con gái ông đơn côi lủi thủi lo cho đàn cháu ngoại.   


Tác giả: Thái Thụy - Theo An Ninh Thủ Đô
Nguồn: http://anninhthudo.vn/Phap-luat/Khon-nan-vu-anh-giet-em-cot-keo-tai-nha-cha-vo/421079.antd
Nguồn 2: http://dantri.com.vn/phap-luat/gay-su-voi-bo-vo-dam-chet-anh-em-coc-cheo-1320108335.htm


Lời bàn: 

Chỉ vì nhà vợ không theo Công giáo. Thấy ngứa mắt vì bố vợ đang thắp hương cúng đầu tháng, tên chiên cuồng này đã cầm dao chém bố vợ, đâm chết em rể rồi bỏ trốn. Thật đúng với lời Chúa dạy trong Kinh Thánh:

"Luke 19:27 : Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta."

"Matthew 10: 34-36 Chúa Giê-su khẳng định:

Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn."

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Nỗ lực tuyệt vọng cứu dân tộc: Chính sách cấm đạo Công giáo thời Minh Mạng


Nỗ lực tuyệt vọng cứu dân tộc Việt: Chính sách cấm đạo Công giáo thời Minh Mạng

Bắt đầu từ năm 1825 trở đi thực dân Pháp tăng cường xâm nhập vào Việt Nam dưới mọi hình thức trong đó có hình thức truyền đạo. Hoạt động truyền đạo của các giáo sĩ Pháp đã làm cho mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Pháp ngày càng trở nên căng thẳng…
Lê Văn Viện[1]
Bối cảnh lịch sử, quan hệ ngoại giao Việt Nam dưới thời vua Minh Mạng
Vào những thập kỉ 30,40 thế kỉ XIX, hoạt động của các thương thuyền và lực lượng hải quân của các nước phương Tây rầm rộ ở các vùng biển Ấn Độ Dương và Đông Nam Thái Bình Dương, phản ánh một cấp độ hoạt động của các nước tư bản phương Tây, đang muốn bành trướng thị trường và bành trướng thuộc địa ở vùng này. Nhiều nước trong vùng đã trở thành thuộc địa của các nước nói trên hoặc trở thành quốc gia chịu ảnh hưởng chi phối của các nước phương Tây. Đặc biệt, cuộc chiến tranh nha phiến diễn ra giữa Anh và Trung Quốc từ năm 1839, sau đó Trung Quốc thất bại phải kí điều ước Nam Kinh năm 1842, đã gây tiếng vang lớn ở Viễn Đông. Tất cả những tình hình trên đều được triều đình Huế theo dõi qua các sứ trình nhật kí của các thương đoàn và ngoại giao đi thăm do tình hình ở các khu vực sôi động do Minh Mạng cử đi. Chỉ riêng trong thời Minh Mạng đã có 10 phái đoàn cử đi công cán vừa để mua các sản phẩm Âu Châu, người Anh và người Hà Lan ở trong vùng. Sự bành trướng thế lực và huy trương thanh thế của các nước Âu Châu ở vùng này được phản ánh trong các sứ trình nhật kí không khỏi làm cho triều đình nói chung và Minh Mạng nói riêng phải cảnh giác trước mọi động thái của các nước Âu Châu đối với Việt Nam.
Cũng vào khoảng thời gian này, xu thế bành trướng thuộc địa của Pháp sau vùng Viễn Đông, sau một thời gian tạm lắng do cuộc cách mạng tư sản Pháp, nay lại được phục hồi và có phần mạnh mẽ hơn dưới thời vua Louis Philippe [2]. Chính phủ Pháp đặc biệt chú ý tới Đông Dương, nhất là Việt Nam, nước có mối quan hệ cũ với Pháp từ điều ước 1787 kí kết giữa chính phủ Pháp và người đại diện của Nguyễn Ánh là Pigneau de Beshaine.
Chọn Minh Mạng kế vị, Nguyễn Ánh (Gia Long) đã nhận thấy được khả năng quyết đoán của một con người cứng rắn có thể giải quyết các công việc phức tạp của triều đình, đặc biệt đối với phương Tây trong đó có vấn đề truyền giáo luôn làm cho nhà vua trăn trở, lo âu.
Năm 1822 Pháp đã cử J.B. Chaigneau sang Việt Nam làm lãnh sự để duy trì mối liên lạc. Năm 1824, một chiếc tàu của Pháp vào cửa Hàn đem thư và lễ vật của vua Pháp gửi cho Minh Mạng và có một số giáo sĩ người Pháp theo tàu vào Việt Nam. Vua Minh Mạng không nhận thư và lễ vật, không cho các sĩ quan của tàu vào chầu, riêng giáo sĩ thừa sai trốn được lên đất liền. Năm 1831, lại có một tầu Pháp đưa viên lãnh sự Pháp vào Huế nói là để thi hành điều ước 1787[3], cũng bị Minh Mạng cự tuyệt. Thái độ của vua Minh Mạng không phải là vô cớ, bởi mọi động thái ngoại giao của Pháp đối với Việt Nam lúc này không có động cơ nào khác hơn so với trước đây là đòi mở cửa và đòi cho các giáo sĩ thừa sai được tự do truyền đạo, để tiến tới thuộc địa hóa và Thiên chúa giáo hóa Việt Nam, điều mà Gia Long đã thấy rõ, Minh Mạng càng thấy rõ hơn. Nhưng những động thái đối ngoại đầy kiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây nhiều sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp. Việc từ chối tiếp nối quan hệ ngoại giao với Pháp của vua Minh Mạng nên chăng cần được hiểu là để nghiền ngẫm một đối cách hữu hiệu với mục tiêu kép này của các động thái ngoại giao Pháp.
Tháng 11 năm Ất Tị (1835) nhà vua khiến Vệ-úy Nguyễn Văn Chư, Nhị đẳng thị vệ Võ Huy Dụng đem theo tên hiệu lực Trần Danh Bửu đi tầu Linh phụng qua nước Tây thương thuyết. [4]
Và để nắm vững tình hình hơn, năm 1840, Minh Mạng đã gửi phái đoàn ngoại giao do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp để thăm dò thái độ của Pháp để căn cứ vào đó mà có được những cuộc thương lượng minh bạch. Song ngay khi đến Pháp, phái đoàn Phan Thanh Giản đã bị các chức sắc của Hội thừa sai Paris phản đối và vận động một cuộc tẩy chay trên báo chí, khiến L.Philippe, vua Pháp từ chối tiếp phái đoàn. Sự thất bại này của phái đoàn Phan Thanh Giản, càng minh họa thêm mối quan hệ khăng khít giữa truyền giáo và thực dân ở Việt Nam. Và, những gì Minh Mạng nghĩ và sẽ làm đối với truyền giáo khi ông ở ngôi không chỉ là những suy nghĩ thiển cận, vô căn cứ.
Trong khi đó, hoạt động của giáo hội Thiên chúa giáo ở trong nước cũng làm cho triều đình Minh Mạng lo ngại. Xét về chính sách đối với Thiên Chúa Giáo dưới thời Minh Mạng có thể xét theo hai thời kì.

Thời kì ngăn cản Đạo (1825-1832)
Bắt đầu từ năm 1825 trở đi thực dân Pháp tăng cường xâm nhập vào Việt Nam dưới mọi hình thức trong đó có hình thức truyền đạo. Hoạt động truyền đạo của các giáo sĩ Pháp đã làm cho mối quan hệ giữa Minh Mạng và Pháp ngày càng trở nên căng thẳng.
Ngày 18 tháng 2 năm 1825, Minh Mạng đã ký một đạo dụ đại ý nói là: “Đạo của người Tây-phương đã làm hư lòng người, làm đồi phong, bại tục…ngài đã ra lệnh cho quan tỉnh, Quảng-nam mỗi khi thấy tầu Pháp đến phải canh giữ cẩn thận và khám xét kỹ càng”[5]
Để quản lí, theo dõi hoạt động truyền giáo, Minh Mạng lệnh cho các giáo sĩ tập trung về kinh đô Huế, chịu sự giám sát của triều đình. Tuy có lệnh như vậy, song các giáo sĩ thừa sai ở phía Bắc đều lẩn trốn, chỉ có mấy giáo sĩ thừa sai ở phía Nam như Jaccard, Odorico, Taberd, Gagelin chấp hành đến Huế, được nhà vua tiếp đãi tử tế, phong cho chức hành nhân, cho lương bổng và giúp nhà vua phiên dịch các tài liệu tiếng nước ngoài.
Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tổ tiên thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực ra đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết”[6]
Năm 1832, nhân vụ giáo sĩ người Pháp có tên là Phạm Văn Kinh ở họ đạo Dương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên bí mật truyền đạo, cầu kinh. Quan phủ Thừa Thiên nhiều lần gọi đến công đường khuyến cáo nhưng không một ai chịu bỏ đạo. Năm đó, Minh Mạng ra lệnh cho các quan tỉnh “khuyến cáo bỏ đạo, ai thành thực bước qua Thập tự thì miễn tội, nhà thờ, nhà giảng cho hủy diệt đi, ai cố tình không tuân bị tội nặng”[7].
Châu bản triều Nguyễn có ghi lại việc theo dõi Giáo sĩ Phạm Văn Kinh qua bản tâu của Bộ Hình ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng 19 (1838) như sau: Có tên Phạm Văn Kinh, người Tây Dương, tháng 5 năm Minh Mạng 13 (1832), can án về truyền đạo Gia Tô ở làng Cổ Lão, phủ Thừa Thiên bị kết án giảo giam hậu mong ơn phát làm kinh ở phủ Thừa Thiên nhưng vẫn không chừa, ngày đêm giảng đạo tà giáo, lại đày đi đồn phủ ở Ai Lao, sau lại cho trở về an trí ở huyện Cam Lộ. Bộ chúng tôi cho người lên Cam Lộ mật thám xem Phạm Văn Kinh có lén thông tin tức gì chăng. Biết rằng Phạm Văn Kinh ở trên ấy, ngày thường có nhiều người tới lui, tiền bạc ăn tiêu dư giả, và xem bộ kiêu căng không sợ gì cả. Vừa rồi dân Quảng Trị có người theo tà đạo, không chịu bước qua hình chữ thập, vậy xin giao Phạm Văn Kinh cho tỉnh Quảng Trị tra tấn cho ra việc”[8]. Qua đó mới thấy sự cẩn trọng, khoan dung của triều đình Huế đối với các giáo sĩ nước ngoài và vấn đề cấm đạo không đơn giản như các tội phạm khác.
Minh Mạng còn ra lệnh cho các quan lại ở các địa phương tăng cường kiểm soát các vùng duyên hải để đề phòng các họat động truyền giáo của các giáo sĩ. Đồng thời với điều đó, Minh Mạng thực thi chính sách cứng rắn bằng cách đóng cửa tòa lãnh sự Pháp vào năm 1830. Quan hệ giữa triều Nguyễn với Pháp thời kì Minh Mạng trở nên băng giá.
Thời kì cấm Đạo (1833-1839)
Đặc biệt từ sau khi nổ ra cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Phiên an năm 1833, có sự tham gia ở mức độ nào đó cuả giáo sĩ Pháp và giáo dân, nên đã có dụ cấm đạo nghiêm khắc. Nhiều giáo sĩ bị giết, nhiều tín đồ bị xử tử trong đó có cả quan lớn trong triều, nhà thờ bị phá: Giai đoạn cấm đạo bắt đầu.
Việc giám sát và truy bắt các giáo sĩ phương Tây trở nên gay gắt hơn, một số giáo sĩ Pháp bị tội tử hình hoặc chết rũ tù do không tuân thủ pháp luật đã định, đã xảy ra chủ yếu từ thời điểm này, đó là trường hợp của Gagelin (1833), Marchand (1835), Cornay (1837) Jaccard, Borie (1838), Delamotte (1840), …cùng một số linh mục bản xứ.
Đến 25 tháng 1 năm 1836 có dụ kết tội các giáo sĩ Tây-phương bị bắt ở trong nước bị bắt sẽ bị tử hình, kẻ nào chứa chấp sẽ cùng bị án đó.
Để hỗ trợ thêm cho việc lôi kéo và giáo dục dân theo đạo trở về tín ngưỡng và đạo lý truyền thống. Năm 1834, Minh Mạng đã biên soạn một số tài liệu có tên là “Thập Điều giáo huấn”, khuyến dụ dân chúng làm những điều tốt lành phù hợp với đạo đức và văn hóa truyền thống. Xin dẫn trích ra điều 7: Có tên “Sùng chính học”, tức sùng đạo học chân chính. Đây là điều trực tiếp phê phán Thiên chúa giáo là tà đạo, trái với đạo lý, văn hóa truyền thống, cần phải từ bỏ: “Học là cốt học cái đạo làm người. Cho nên người trong thiên hạ không một người nào không phải học, nhưng học cũng phải học chân chính. Ta muốn triệu dân các ngươi chăm chỉ chính học, biết rõ luân lý. Đạo Nghiêu Thuấn chỉ có hiếu đễ mà thôi, đạo Khổng Mạnh thì lấy nhân nghĩa làm đầu. Đó là những điều nên học, còn như tà đạo, dị đoan, chớ để nó lừa dối cám dỗ. Đạo Gia tô lại càng vô lý: trai gái chung đụng nôm tạp, việc làm giống như cầm thú. Gây vây cánh, cổ động gian tà, tự sa vào tội chết. Do đó làm bại hoại luân lý, hư hỏng giáo hóa, không thể tin được. Nếu người nào đã bị dỗ dành thì nên mau chóng bỏ đi. Phàm những việc quán, hôn, tang, tế đều theo lễ tục nước nhà, …” như lời dẫn trong Mạnh Tử: “Dẹp thuyết bất chính, bỏ nết không tốt, gạt lời dâm tà”[9]. Đây là một sáng kiến và cũng là một cố gắng lớn của Minh Mạng, thể hiện thiện chí coi trọng phương thức lấy giáo dục là chính để khuyên dụ nhân dân tu dưỡng đạo đức để trở thành một người dân tốt. Tuy trong điều 7, có những lời lẽ gay gắt đối với đạo Thiên chúa giáo, song nhìn toàn cục thì những điều giáo huấn nói trên của vua Minh Mạng chủ yếu đề cao đức Khổng Mạnh kết hợp với nuôi dưỡng những đức tính, những hành động thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc cho cả nước.
Năm 1835, Phan Bá Đạt, Phó đô ngự sử Viện Đô sát tâu: Cố đạo Mã Song (Marchand) ở Gia Định đồng lõa với Lê Văn Khôi khi bị bắt khai rằng “Thầy thuốc người Tây Dương khoét mắt người sắp chết để chế thuốc”, còn “Tà giáo Tây Dương cho một trai, một gái ở chung một nhà có tường gạch ngăn cách, khi động tình dục, rập cho chúng chết bẹp, ép lấy nước xác chết, hòa làm bánh cho người theo đạo ăn khiến cho họ mê đạo không bỏ được”; rồi nge nói “Trai gái lấy vợ, lấy chồng, đạo trưởng đem người con gái vào nhà kín với danh nghĩa giảng đạo thực ra để dâm ô…”[10]. Những chuyện này được phịa ra trong dân gian và Quan Đô ngự sử Phan Bá Đạt đã khéo thêu dệt thành những mẫu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nên dễ gây ấn tượng trong triều đình và tạo nên sự phẫn nộ trong công chúng. Việc giết đạo từ đó càng khốc liệt hơn.
Từ năm 1825-1838 có 4 Giám mục, 9 Linh mục ngoại quốc, 20 Linh mục người Việt và hàng trăm giáo dân bị sát hại[11].
Tháng 10 năm 1839, Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: Buộc tất cả những người theo đạo phải bỏ đạo trong vòng một năm, xây dựng chùa chiền vào những nơi trước đây xây dựng nhà thờ. Tất cả thần dân phải tích cực trông nom chùa chiền.
Dụ cấm đạo mới này đã gây sự căm phẫn trong giáo đồ và giới chức Thiên chúa giáo, làm chấn động xã hội. Tuy thế, số giáo dân dưới thời Minh Mạng vẫn được tiếp tục tăng, vào năm 1840, cả nước có 3 Giám mục, 2 Phó giám mục, 24 Linh mục ngoại quốc, 144 Linh mục người Việt và 420.000 giáo dân[12]. Như vậy so với năm 1800, số giáo dân trong cả nước đã tăng thêm 110.000 người.
Một vài nhận xét
Qua những nội dung về diễn trình chính sách của vua Minh Mạng đối với Thiên chúa giáo như đã cung cấp ở trên, chúng ta có thể thấy rõ, chính sách của Minh Mạng từ đầu đến cuối là cả một quá trình, nhìn chung chính sách đó khá mềm dẻo, có tình, có lí do. Về chủ trương, Minh Mạng không hề có ý tận diệt ngay Thiên chúa giáo hoặc tàn sát giáo dân hàng loạt, mục tiêu đặt ra chỉ là: trước mắt, hạn chế sự truyền bá của đạo Thiên chúa. Sau này do sự tác động của biến cố này hoặc biến cố khác, chính sách đó chuyển từ cản đạo đến cấm đạo và việc cấm đạo ngày càng trở nên gay gắt gơn.
Bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế thế kỷ XIX đã ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến chính sách của vua Minh Mạng đối với đạo Thiên chúa. Nhìn một cách toàn diện và đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể bấy giờ, chúng ta có thể thấy rõ những chính sách đó có những mặt tích cực, đó là bảo toàn nền văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, ngăn chặn những thế lực lợi dụng tôn giáo để xâm phạm chủ quyền quốc gia.
Nhưng những chính sách đó cũng có mặt hạn chế, hạn chế cơ bản nhất là nếu đặt nước ta trong bối cảnh thế giới và trong nước ở thế kỷ XIX với xu thế tư bản hóa, thực dân hóa diễn ra mạnh mẽ thì vua Minh Mạng nói riêng và nhà Nguyễn nói chung đã ra sức củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, đang nổ lực đề cao vị trí độc tôn của Nho giáo, từ chỗ coi Nho giáo là khuôn vàng, thước ngọc “vững vàng, anh minh như bầu trời”, những gì sai trái với khuôn vàng, thước ngọc ấy đều xấu xa, sai trái, các tôn giáo khác trong đó có đạo Thiên chúa đều là tà đạo, phải chăng là không còn phù hợp với xu thế thời đại, yêu cầu của đất nước thời bấy giờ. Minh Mạng coi việc cản đạo đi đến cấm đạo Thiên chúa cũng là một chính sách lớn để ổn định trật tự xã hội và phòng ngừa sự dòm ngó của các thế lực phương Tây, nhất là Pháp.
Trên thực tế thì ở Pháp có ba lực lượng cấu kết với nhau: Chính quyền đại diện là nhà vua, có hoàng gia và giới quý tộc ủng hộ. Giáo hội với các nhà truyền giáo ở khắp các nơi và một số tín đồ lớn bao gồm cả hoàng gia, quý tộc và dân chúng.Tư bản gồm các nhà kỹ nghệ, kinh doanh trong đó có cả người của hoàng gia, quý tộc và dân chúng. Lợi ích của ba lực lượng này quyện chặt vào nhau. Vả lại ảnh hưởng của giáo hội Công giáo rất mạnh đối với chính quyền. Trong khi ấy, chính sách đi từ cản đến cấm đạo của vua Minh Mạng đã khiến cho các giáo sĩ gặp khó khăn cho việc truyền đạo và tự nhiên hai lực lượng trên phải có phản ứng. Việc cấm đạo làm cho quân Pháp phải can thiệp mà quân Pháp can thiệp thì sự cấm đạo ngày càng nhanh và mạnh hơn nữa. Theo cá nhân tôi nghĩ nó như một cái vòng luẩn quẩn, không tìm được lối thoát cho cái vòng bế tắc ấy thì tất yếu chỉ có thể giải quyết bằng chiến tranh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010.
Trương Bá Cần, Phạm Cao Dương, Lê Văn Hảo, Nguyễn Khắc Ngữ, Trần Trọng Phủ, Lý Hánh Trung (1967), Kỷ Niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ (20-6-1867 – 20-6-1967), Nhà in Thế giới 225-227, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn.
Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam, Trung Tâm UNESCO Bảo Tồn Và Phát Triển Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam.
Nhiều tác giả (2011) (Tái bản lần thứ nhất), Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – Trung tâm Văn hóa Tràng An, Hà Nội.
Chú thích:
[1] Lớp 4C, Khoa Lịch Sử, Trường Đại học sư phạm – Đại học Huế
[2] Louis Philippe làm vua Pháp từ năm 1830-1848.
[3] Điều ước 1787 kí kết giữa chính phủ Pháp và người đại diện của Nguyễn Ánh là Pigneau de Beshaine.
[4] Có sách nói là phái đoàn sang thương thuyết về việc xin rút các nhà truyền giáo về nước. Nhưng khi phái đoàn sang đến nơi thì hội Ngoại-quốc truyền-đạo xin chính phủ không tiếp nên phái đoàn phải ra về.
[5] Trương Bá Cần, Phạm Cao Dương, Lê Văn Hảo, Nguyễn Khắc Ngữ, Trần Trọng Phủ, Lý Hánh Trung (1967), Kỷ Niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ (20-6-1867 – 20-6-1967), Nhà in Thế giới 225-227, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, tr.34.
[6] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.46.
[7] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.46.
[8] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.46-47.
[9] Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam, Trung Tâm UNESCO Bảo Tồn Và Phát Triển Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam, tr.209-210.
[10] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.47.
[11] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.47.
[12] Đỗ Bang, “Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1/2010, tr.47.

Theo NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Nguồn:http://redsvn.net/chinh-sach-cam-dao-cong-giao-thoi-minh-mang-no-luc-tuyet-vong-cuu-dan-toc-viet/

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Làm theo câu chuyện Kinh thánh, cha xứ bị cá sấu ăn thịt

Tại Zimbabwe, vào tháng 7-5-2017. Một cha xứ đã bị cá sấu thịt ăn khi cố gắng làm theo câu chuyện Kinh thánh về việc Chúa Jesus đi trên mặt nước, Daily Post đưa tin.

Theo tờ báo Anh, cha xứ Jonathan Mthethwa lội xuống nước, đi được khoảng 30m và bị đàn cá sấu quay lại tấn công khi chỉ còn cách bờ vài bước chân, ông đã bị đuối nước và bị 3 con cá sấu ăn thịt ngay trước sự chứng kiến của các giáo dân.


Ảnh minh họa

Mthethwa thiệt mạng vào sáng thứ 7 tuần trước khi thực hiện màn biểu diễn trong sách Kinh Thánh trước các giáo dân của mình.

Deacon Nkosi, một thành viên của nhà thờ, nói: "cha xứ dạy chúng tôi về đức tin vào tuần trước.

"Ông ấy hứa sẽ chứng minh niềm tin của mình cho chúng tôi, nhưng ông không may đã bị đuối nước và bị 3 con cá sấu lớn ăn thịt trước mặt chúng tôi.

"Cho tới giờ chúng tôi vẫn không hiểu vì sao chuyện này có thể xảy ra, cha đã cầu nguyện cả tuần vậy mà những con cá sấu ăn thịt ông chỉ trong vài phút", một trong những người dân địa phương bàng hoàng kể lại.


Trình bày cách Chúa Jesus bước trên nước và bị cá sấu ăn thịt

Nhân chứng Deacon Nkosi nói thêm: "Chúng đã ăn hết ông ấy trong vài phút. Tất cả những gì còn lại của ông ấy khi chúng ăn xong là một đôi dép và đồ lót trôi nổi trên mặt nước."

Daily Mail cũng xác nhận, vị linh mục đã thiệt mạng khi các nhân viên cứu hộ có mặt tại hiện trường 30 phút sau đó, nhưng rõ ràng họ đã đến quá muộn.


Nguồn: https://www.baomoi.com/dan-ca-sau-an-thit-cha-xu-gay-soc-o-zimbabwe/c/22279432.epi
Nguồn:http://vtc.vn/dan-ca-sau-an-thit-cha-xu-gay-soc-o-zimbabwe-d323035.html


Trích đoạn câu truyện trong kinh thánh:

Chúa Ði Bộ Trên Mặt Nước

22 Ngay sau đó Ðức Chúa Jesus truyền cho các môn đồ phải xuống thuyền, qua bờ bên kia trước, trong khi Ngài ở lại giải tán đám đông.
23 Sau khi giải tán đám đông, Ngài đi một mình lên núi để cầu nguyện. Tối đến, Ngài ở trên núi một mình.
24 Bấy giờ thuyền đã ra giữa biển và bị sóng đánh, vì ngược gió. 25 Khoảng canh tư đêm đó, Ðức Chúa Jesus đi trên mặt biển đến với họ. 26 Khi thấy Ngài đi trên mặt biển, các môn đồ sợ hãi bảo nhau, “Ma kìa!” rồi hoảng sợ hét lên.
Link tham khảo online: https://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2014:22-33&version=BD2011
Trích đoạn: Matthew 14:22-33 (Ma-thi-ơ 14:22-33)
KÊT QUẢ:  ĐỨC TIN 0 - CÁ SẤU 1

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2017

FB10-2017 - Ngu mãi ngàn năm, chiên không đọc kinh thánh mà sao thích cãi nhau?

NGU MÃI NGÀN NĂM




Để ý chien ngu kiểu nhiều tập theo công thức n+1…Mở mồm ra luôn hãnh diện là người công giáo, thế nhưng ko bao giờ đọc kinh thánh hoặc có riêng cho mình 1 cuốn kinh thánh. Khi người ta dẫn chứng trong kinh thánh lời của God ra, thì chien lại phán ngay đó là lời của ác quỷ Satan thế chẳng khác nào chien lại chửi đấng Jehovah, Jesus là ác quỷ sao? Thêm 1 điều này nữa mà chien luôn đưa ra trong tranh luận “lời god khó hiểu lắm, ko phải ai cũng hiểu và phải hiểu nó theo nghĩa bóng” ôi cái cuốn kinh thánh tôi đọc đi đọc lại và suy niệm theo quan niệm khách quan thì nó rỗng tuếch về triết lý, kiến thức và đạo đức nên chẳng có gì đáng để học cả. Kinh thánh ko phải ai cũng hiểu thì in nó ra làm cái quái gì? Đến bố thằng LM cũng phải chạy vắt giò lên cổ khi tôi hỏi vẹo lời God trong kinh thánh. 


Thế nên, tôi cho đấy là lời biện hộ ngu ko diễn tả nổi của đám chien cuồng. Thêm cái ngu nữa, tụi nó có đứa bác bỏ luôn cuốn kinh Cựu Ước (lý do tàn ác của Jehovah, của Do Thái Giáo bla..bla..) nhưng ko hiểu và ko thể suy luận ra điều này; nếu ko có nó thì quyền năng, toàn năng, sáng tạo ra muôn loài của God là con số 0, chẳng còn thuyết tạo hoá, chẳng còn CN hữu thần, và God cha ko có dẫn đến Jesus của bọn nó cũng chả có, Maria cũng chẳng còn đồng trinh và nhiều nhiều hệ luỵ khác .......
CÒN TIẾP....

BÀI ĐĂNG TRÊN FACEBOOK: